Quyền lợi giai đoạn sớm là một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa các sản phẩm, và cũng là chỗ dễ hiểu nhầm nhất khi so sánh.
Cơ chế cơ bản
- Bệnh được phát hiện nhưng chưa đạt định nghĩa chính.
- Hợp đồng chi trả một tỷ lệ của số tiền bảo hiểm.
- Tỷ lệ đó khác nhau giữa các sản phẩm và các bệnh.
- Điều kiện cụ thể cũng khác nhau.
- Đây là quyền lợi bổ sung chứ không phải quyền lợi chính.
Hai mô hình khác nhau
- Mô hình khấu trừ: khoản đã nhận bị trừ vào quyền lợi chính.
- Mô hình độc lập: quyền lợi chính giữ nguyên.
- Khác biệt này rất lớn về tổng số tiền.
- Hỏi thẳng sản phẩm bạn xem thuộc mô hình nào.
- Đừng giả định, hãy xem văn bản.
Hai sản phẩm cùng quảng cáo có quyền lợi giai đoạn sớm có thể cho tổng số tiền khác nhau rất nhiều tuỳ vào mô hình này.
Những câu hỏi cụ thể
- Tỷ lệ chi trả giai đoạn sớm là bao nhiêu phần trăm.
- Có giới hạn số tiền tối đa không.
- Khoản này có bị trừ vào quyền lợi chính không.
- Sau khi nhận, hợp đồng còn hiệu lực không.
- Phí có tiếp tục phải đóng không.
- Có được nhận tiếp khi bệnh nặng lên không.
Điều gì xảy ra với hợp đồng sau khi nhận
- Một số sản phẩm giữ nguyên hiệu lực.
- Một số giảm số tiền bảo hiểm còn lại.
- Một số miễn phí đóng tiếp cho phần còn lại.
- Một số kết thúc hợp đồng nếu đã chi trả đủ mức.
- Đây là thông tin cần biết trước chứ không phải sau.
Về mặt thực tế khi bệnh xảy ra
- Khoản chi trả sớm tới đúng lúc chi phí bắt đầu phát sinh.
- Nó giúp trang trải giai đoạn đầu.
- Nhưng cũng cần tính tới nhu cầu về sau.
- Nếu bệnh tiến triển thì nhu cầu tài chính tăng lên.
- Cân nhắc cả hai giai đoạn khi đánh giá sản phẩm.
Đây là lý do mô hình khấu trừ và mô hình độc lập tạo ra khác biệt thật chứ không chỉ là chi tiết kỹ thuật.
Khi so sánh sản phẩm
- Đừng chỉ so tỷ lệ chi trả giai đoạn sớm.
- Tính tổng số tiền nhận được trong các kịch bản khác nhau.
- Kịch bản một: chỉ đạt giai đoạn sớm.
- Kịch bản hai: đạt giai đoạn sớm rồi tiến triển.
- Kịch bản ba: đạt ngay giai đoạn nặng.
- So sánh tổng số trong từng kịch bản.
Hỏi ví dụ bằng con số
- Với số tiền bảo hiểm này, giai đoạn sớm được bao nhiêu.
- Sau đó còn lại bao nhiêu.
- Xin tư vấn viên viết ra con số cụ thể.
- Con số dễ so sánh hơn mô tả bằng lời.
Một bảng con số cho hai ba sản phẩm đặt cạnh nhau làm rõ ngay điều mà nhiều trang mô tả tính năng không làm được.
Về mức phí
- Quyền lợi rộng hơn thường đi kèm phí cao hơn.
- Đó là sự đánh đổi bình thường.
- Cân nhắc khả năng đóng phí lâu dài.
- Một hợp đồng bị huỷ giữa chừng vì không đóng nổi thì không bảo vệ được gì.
- Chọn mức bạn duy trì được qua nhiều năm.
Dòng thứ tư là điều đáng cân nhắc nhất trong nhóm này và ít được nhắc tới trong lúc tư vấn.
Ảnh hưởng tới quyết định tầm soát
- Đừng để cân nhắc bảo hiểm ảnh hưởng tới việc đi khám.
- Phát hiện sớm luôn tốt hơn cho sức khoẻ.
- Chi phí điều trị sớm thường thấp hơn nhiều.
- Trì hoãn khám để đạt giai đoạn nặng là quyết định rất tệ.
- Bảo hiểm là công cụ hỗ trợ, không phải mục tiêu.
Điều này nghe hiển nhiên nhưng nó đáng được nói rõ vì cấu trúc của sản phẩm vô tình tạo ra một logic ngược. Sức khoẻ và tuổi thọ luôn là ưu tiên cao hơn số tiền nhận được từ một hợp đồng, và không có khoản chi trả nào bù lại được cho việc bỏ lỡ thời điểm điều trị tốt nhất.
Giữ giấy tờ cho lần nộp sau
- Giữ toàn bộ hồ sơ của lần chi trả đầu.
- Giữ quyết định chi trả bằng văn bản.
- Ghi rõ đã nhận bao nhiêu và khi nào.
- Điều này cần cho việc tính toán lần sau.
- Cho người thân biết những giấy tờ này ở đâu.
Khi nào quyền lợi này thực sự có ích
- Khi bệnh được phát hiện qua tầm soát định kỳ.
- Khi điều trị sớm cần chi phí ngay nhưng chưa đạt mức nặng.
- Khi phải nghỉ việc một thời gian để điều trị.
- Khi cần đi xa để điều trị chuyên sâu.
- Đây là những tình huống rất thực tế.
Đó cũng là lý do quyền lợi này trở nên phổ biến hơn trong các sản phẩm gần đây: khi tầm soát tốt hơn, nhiều bệnh được phát hiện ở giai đoạn mà định nghĩa cổ điển chưa bao phủ, trong khi gánh nặng tài chính thì đã bắt đầu.
Tóm lại
Hai sản phẩm cùng có quyền lợi giai đoạn sớm có thể cho tổng số tiền rất khác nhau tuỳ mô hình khấu trừ hay độc lập. Hãy tính tổng số nhận được trong ba kịch bản khác nhau thay vì chỉ so tỷ lệ. Hỏi rõ hợp đồng còn hiệu lực thế nào sau khi đã nhận chi trả sớm. Và một hợp đồng bị huỷ giữa chừng vì không đóng nổi phí thì không bảo vệ được gì.
Câu hỏi thường gặp
Chi trả giai đoạn sớm là gì?
Là khoản chi trả một phần khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn chưa đạt mức nặng theo định nghĩa chính.
Khoản đó có bị trừ vào quyền lợi sau không?
Tuỳ sản phẩm. Một số trừ đi, một số không. Đây là điểm cần hỏi rõ.
Có nên ưu tiên sản phẩm có quyền lợi giai đoạn sớm không?
Cần cân nhắc cùng nhiều yếu tố khác gồm mức phí và tổng quyền lợi.
Nhận rồi có được nhận tiếp khi bệnh nặng lên không?
Tuỳ điều khoản. Hỏi rõ điều kiện và mức chi trả cho lần sau.